Đặc điểm nhận dạng:
Cây nhỡ cao 5-10m, hoặc cây to cao tới 15m, có ruột xốp. Vỏ cây màu xám, cành nhỏ có lỗ bì.
Lá mọc so le, có cuống dài 8-25 cm, kép chân vịt, thường có 8 lá chét, hình bầu dục nhọn 2 đầu, mép nguyên, hơi thon hẹp hoặc tròn ở gốc, dài 7-17cm, rộng 3-6cm, gân nổi rõ ở mặt dưới.
Hoa nhỏ, màu trắng thơm, tập trung thành chùy hoặc chùm tán ở đầu cành; trên cuống phụ của cụm hoa có khi có những bông hoa riêng lẻ, nhất là về phía ngọn. Đài hoa hình đầu gồm 5 răng có lông ở mặt ngoài, tràng hoa rời, 5 cánh nạc, nhị 5, dài hơn cánh hoa, bầu 6-8 ô.
Quả mọng hình cầu, đường kính 3-4mm, khi chín màu tím đen, chứa 6-8 hạt. Toàn thân có mùi thơm đặc trưng.
Sinh học, sinh thái:
Cây mọc nhiều trong các rừng thứ sinh ở độ cao dưới 1000m, thường mọc thành đám, cũng mọc ở ven rừng, chân núi, sườn đồi, đất hoang từ 100-1500m.
Mùa hoa tháng 11-3 năm sau, mùa quả tháng 4-6.
Phân bố:
Trong nước: Sơn La, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Hòa Bình, Hà Nội, Ninh Bình, Nghệ An, Quảng Trị, Kon Tum, Gia Lai, Lâm Đồng, Bà Rịa - Vũng Tàu.
Trên thế giới: Trung Quốc, Nhật Bản, Lào, Thái Lan, Indonesia.
Tình trạng bảo tồn:
Giá trị, công dụng:
Vỏ chữa phong thấp, đau lưng, mạnh gân xương, đầy bụng, khó tiêu, an thần, cảm cúm phát sốt, đau họng, tê liệt, chân tay co quắp, viêm hạch bạch huyết, viêm tinh hoàn, liệt dương, đàn bà ngứa âm hộ, phù thũng, giải độc lá ngón và say sắn.
Rễ làm thuốc bổ, thông tiểu.
Lá dùng ngoài chữa viêm da dị ứng, bỏng.
Lá có vị đắng được dùng làm rau ăn
Biện pháp bảo vệ: