Tên khác: Thành ngạnh, Lành ngạnh, Cúc lương, Ngành ngạnh, Wòng a mộc, Cây đỏ ngọn, Mạy tiên (Tày), Co kín lang (Thái), Cây vàng la
Tên khoa học: Cratoxylum cochinchinense (Lour.) Blume
Tên đồng danh: Hypericum cochinchinense Lour.; Vismia cochinchinensis (Lour.) Spreng.
Đặc điểm nhận dạng:
Cây thân gỗ cao tới 15m, không có lông, gốc có gai nhọn; bề mặt vỏ thân có các vảy dài, màu nâu nhạt bong ra, ít khi nhẵn; mặt trong màu xanh nhạt.
Lá: đơn, mọc đối, mép lá nguyên. Phiến lá hình bầu dục, có đầu hơi nhọn, bề rộng của lá khoảng 0,5-2cm, chiều dài 5-8cm, có cuống lá dài 0,5-1cm.
Hoa: ở nách lá, mọc chụm 3 – 8 cái, màu hồng đỏ, có 5 cánh, mùi thơm; cánh hoa cao 11 – 15 mm, có vẩy ở gốc; nhị nhiều, xếp thành 3 bó.
Quả nang cao 14mm; hạt có cánh.
Sinh học và sinh thái:
Cây mọc hoang ở những đồi thấp, ráo, không mọc nơi ẩm thấp.
Mùa hoa quả từ tháng 5-7.
Phân bố:
Trong nước: Cây mọc tự nhiên, phổ biến ở vùng trung du suốt từ Bắc vào Nam.
Thế giới: Quần đảo Andaman, Bangladesh, Borneo, Nam Trung Bộ Trung Quốc, Đông Nam Trung Quốc, Lào, Mã Lai, Myanmar, Quần đảo Nicobar, Philippines, Sumatra, Thái Lan, Việt Nam.
Tình trạng bảo tồn:
Giá trị, công dụng:
Lá sắc uống làm thuốc dễ tiêu, bổ máu, bí tiểu, lậu, viêm ruột, ỉa chảy, đau dạ dày, hoa mắt, chóng mặt. Thường dùng cho phụ nữ sau khi sinh đẻ.
Lá non dùng thay trà nên gọi là hoàng ngưu trà.
Gỗ cứng, thường bị chặt làm củi, nên thường chỉ gặp những cây thấp.