Tên khác: Tái nghé biệt chu, Thàu táu đài nhỏ, Ngăm, Chi hờ cung (KHo)
Tên khoa học: Aporosa dioica (Roxb.) Muell.-Arg.
Tên đồng danh: Alnus dioica Roxb.
Họ: Thầu dầu – Euphorbiaceae
Bộ: Sơ ri – Malpighiales
Đặc điểm nhận dạng:
Cây gỗ nhỡ cao từ 5 đến 12 mét. Trên cành có nhiều lông, sau nhẵn có màu xám hơi nhạt.
Lá cây mọc so le, phiến lá có hình mác. Đầu và gốc của lá thuôn, phiến lá dài khoảng 6 - 11cm, rộng khoảng 2,5 - 6cm, mặt lá nhẵn.
Mặt trên của lá có màu lục, mặt dưới của lá có màu rất nhạt. Trên các gân lá có nhiều lông, sau đó nhẵn. Mép lá uốn lượn răng cưa, đặc biệt là phía gần đầu của lá, gân lá cong dọc theo mép lá. Các gân phụ hợp thành một mạng lưới.
Cuống lá dài khoảng 1-2cm, cuống có lông, lá kèm sớm rụng.
Cụm hoa đực mọc ở kẽ lá, mỗi cụm hoa bao gồm 3-9 bông có chiều dài khoảng 2-3cm, lá bắc có nhiều lông. Có 3 lá đài và 2-3 nhị hoa.
Cụm hoa cái mọc thành chùy ở kẽ lá, mỗi cụm hoa có khoảng 15 hoa kèm nhiều vảy ở gốc, lá bắc có nhiều lông. Có 4 lá đài.
Bầu thuôn, có lông, chứa 2 ô.
Quả có dạng hình trứng, thuôn ở 2 đầu, chiều dài quả khoảng 1-2cm, rộng khoảng 0,6 đến 0,7cm.
Sinh học, sinh thái:
Cây mọc tự nhiên trên các đồi cây bụi ở tất cả các tỉnh thuộc vùng trung du, vùng núi có độ cao khoảng 1000 m.
Loài cây ưa sáng, mọc rải rác hoặc có khi chiếm ưu thế ở các khu vực nương rẫy hoặc rừng thứ sinh, cây có khả năng chịu được nóng và khí hậu khô hạn. Cây phát triển tự nhiên bằng hạt, có khả năng tái sinh sau khi đã bị chặt.
Loài cây tiên phong trong quá trình phát triển diễn thế thứ sinh (từ quần xã cây bụi trên đất trống thành rừng cây gỗ trong tương lai).
Mùa hoa quả tháng 4-8.
Phân bố:
Trong nước: Hà Giang, Vĩnh Phúc (Tam Đảo), Cao Bằng, Lạng Sơn.
Trên thế giới: Trung Quốc (phía Nam), Ấn Độ, Indonesia, Thái Lan, Malaysia, Lào, Campuchia.
Tình trạng bảo tồn:
Giá trị, công dụng:
Dân gian dùng các bộ phận của cây chữa ho lao và cầm máu vết thương.
Sử dụng lá tươi đem đi giã nát, đắp vào vết thương chữa mụn nhọt, vết thương, áp xe.
Thường phối hợp với các vị thuốc khác cùng với 10-16g rễ cây, dùng để uống chữa hậu sản.
Rễ phối hợp với một số vị thuốc khác chữa các bệnh sau khi sinh đẻ.
Ở Campuchia, vỏ cây sau khi thu hái, đem cạo bỏ lớp vỏ đen bên ngoài, tiến hành ngâm rượu hoặc sắc đặc, lấy nước ngậm trong miệng từ 10 - 15 phút, sau đó nhổ đi để chữa viêm sưng lợi, đau răng.
Ở Trung Quốc (Vân Nam), lá chữa bệnh ung sang thũng độc.
Biện pháp bảo vệ: