Tên khác: Bứa lá thuôn, Bứa rừng
Tên khoa học: Garcinia oblongifolia Champ. ex Benth.
Tên đồng danh: Echites scholaris L.; Tabernaemontana alternifolia Burm.;
Họ: Bứa – Clusiaceae
Bộ: Sơ ri – Malpighiales
Đặc điểm nhận dạng:
Cây gỗ thường xanh có chiều cao khoảng 6-7m. Các cành non thường có hình vuông, phân nhánh ngang và rũ xuống.
Lá có hình dạng thuôn, hơi cong, đuôi nhọn, đỉnh dài, viền nguyên, lá nhẵn bóng, với nhiều điểm mờ.
Hoa đực mọc thành nhóm 3-5 hoa ở kẽ lá, với 4 lá đài và 5 cánh hoa, có 20 nhị với chỉ nhị ngắn. Hoa lưỡng tính có lá dài và cánh hoa giống như ở hoa đực, màu vàng hoặc trắng;
Quả có 4 (6-10) ô, hình cầu, có vòi ngắn và vỏ quả dày, có rãnh, khi chín có màu vàng, phần bên trong hơi đỏ và có từ 6-10 hạt.
Sinh học, sinh thái:
Loài cây mọc tự nhiên trong rừng thứ sinh và phân bố rải rác. Cây ưa sáng bóng và đất tốt, có tốc độ sinh trưởng nhanh và có thể tái sinh bằng hạt.
Mùa hoa tháng 3 - 4 và mùa quả tháng 6 - 7.
Phân bố:
Trong nước: Quảng Ninh (Tiên Yên), Tuyên Quang, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Bắc Giang, Phú Thọ (Chân Mộng), Vĩnh Phúc (Tam Đảo), Hà Nội, Ninh Bình,, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Trị (Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, núi Răng Cọp), Thừa Thiên-Huế, Đà Nẵng (Liên Chiểu), Quảng Nam.
Trên thế giới: Trung Quốc, Việt Nam.
Tình trạng bảo tồn:
Sách đỏ thế giới IUCN (2020) phân hạng Loài ít quan tâm LC - Least Concern
Giá trị, công dụng:
Lá của cây bứa có vị chua và thường được dùng để thái nhỏ và nấu canh chua. Quả sử dụng để nấu canh chua.
Vỏ cây chữa loét dạ dày, loét tá tràng, viêm dạ dày ruột, kém tiêu hoá, viêm miệng, bệnh cặn răng, ho ra máu, bỏng, mụn nhọt, bệnh eczema, dị ứng mẩn ngứa và rút các vết đạn đâm vào thịt.
Nhựa mủ màu vàng của cây đôi khi được dùng trong công nghiệp sơn nhưng cũng có một số ứng dụng sát trùng trong y học dân gian hằng ngày.
Biện pháp bảo vệ: