Cây gỗ lớn, cành non có lông sét. Lá phụ 3 cặp, đầu nhọn, dài đến 15 cm, bìa nguyên, hai mặt không lông, gân phụ 12 -13 cặp.
Gié đực nhiều, thưa; hoa có 4 lá đài, 10 tiểu nhuỵ đỏ. Gié cái dài đến 25 cm; lá hoa có lông như vảy.
Bế quả có 3 cánh, cánh dài to đến 4 cm.
Sinh học và sinh thái:
Cây gỗ thường xanh hoặc rụng lá trong thời gian ngắn, có tán cây dày và rộng, sinh trưởng trong các khu rừng nhiệt đới hỗn giao, bao gồm cả rừng cây họ Dầu (Dipterocarpaceae), ở độ cao từ mực nước biển đến 1.750 m. Đây được xem là loài tiên phong và có khả năng chịu hạn tốt.
Phân bố:
Trong nước: Quảng Trị, Đà Nẵng, Kon Tum.
Thế giới: Từ Đông Bắc Ấn Độ và Bangladesh trải dài đến Đông Dương, miền nam Trung Quốc, Đài Loan, Sumatra, bán đảo Mã Lai và Borneo.
Tình trạng bảo tồn:
Sách đỏ thế giới IUCN (2017) phân hạng loài ít quan tâm (LC).
Giá trị, công dụng:
Giác gỗ có màu từ trắng đến vàng nhạt, lõi gỗ có màu nâu xám với phần trung tâm mang các vệt màu sẫm. Gỗ dễ gia công, có trọng lượng nhẹ được sử dụng làm ván lạng và ván ép, tiện gỗ, làm phào chỉ, cán dụng cụ, lát sàn nhà và làm đồ nội thất thông dụng. Phần lõi gỗ có vẻ đẹp trang trí và có thể được sử dụng để chế tác các vật dụng trang trí nhỏ, đồ gia dụng, nội thất.
Lá của loài này được sử dụng trong y học cổ truyền Trung Quốc.