Lan phụ sinh. Thân hình con suốt, dài 30-35 cm, dày 1,2-1,5 cm, có 7-8 gờ dọc, lóng dài 4-5 cm.
Lá 3-4, tập trung ở đỉnh thân, hình bầu dục thuôn, đỉnh hơi nhọn, dài 11-12 cm, rộng 4-6 cm. Cụm hoa trên thân còn lá, chùm gần đỉnh, dài 30 cm, nhiều hoa. Lá bắc hình bầu dục, dài 1,8-2 cm.
Hoa màu tím hồng nhạt, đường kính 5- 6 cm; cuống hoa và bầu dài 4-5 cm. Các lá đài hình mác, đỉnh hơi nhọn, dài 2,8-3 cm, rộng 1,4-1,6 cm. Cằm dài 0,4-0,8 cm, đỉnh tròn. Cánh hoa hình bầu dục, đỉnh tròn, dài 3- 3,2 cm, rộng 1,9-2 cm, mép xẻ răng nhỏ.
Môi hình gần tròn, dài và rộng 2,6-2,8 cm, viền trắng ở mép, giữa là 1 đốm màu vàng cam; bề mặt phủ lông ở phần giữa; mép xẻ răng nhỏ; gần gốc có 1 nếp gấp sâu, mỗi đầu nếp gấp có 1 túm lông dài ở mép. Cột màu vàng, cao khoảng 0,5 cm; tuyến mật hình bầu dục; răng cột hình liềm. Nắp màu trắng, hình mũ, nhẵn.
Sinh học, sinh thái:
Loài này thường mọc bám trên các cây gỗ lớn trong rừng, ở độ cao 200-500 m.
Ra hoa vào tháng 5-6. Tái sinh bằng chồi và hạt.
Phân bố:
Trong nước: Gia Lai (Chư Păh), QuảngTrị (VQG Phong Nha – Kẻ Bàng, Làng Khoai), Thừa Thiên Huế (Bạch Mã).
Trên thế giới: Chưa ghi nhận
Tình trạng bảo tồn:
Loài đặc hữu Việt Nam, mọc ở miền Trung.
Sách đỏ Việt Nam 2024: Phân hạng loài nguy cấp (EN).
Thông tư 85/2025/TT-BNNMT: Đã có tên trong Phụ lục II CITES và Nhóm IIA – Hạn chế khai thác và sử dụng
Giá trị, công dụng:
Cây có hoa đẹp, thơm được trồng làm cảnh.
Biện pháp bảo vệ:
Quản lý và kiểm soát chặt chẽ việc khai thác gỗ rừng phá hoại sinh cảnh sống của loài. Cần gấp rút di chuyển một số cây sống của loài này về một số VQG và KBTTN gần nơi phân bố nhất để nhân giống, bảo tồn và phát triển. Kiểm soát chặt chẽ tình trạng khai thác, buôn bán trái pháp luật loài này.