Lan phụ sinh. Thân dài 60-80 cm, hình trụ, dày 0,4-0,5 cm, thõng xuống, lóng dài 2,5-3 cm.
Lá hình mác nhọn, dài 6-8 cm, rộng 1,5-2 cm. Cụm hoa bên, 1-2 hoa, mọc suốt dọc chiều dài thân không còn lá. Lá bắc hình bầu dục, dài khoảng 0,3 cm.
Hoa màu tím rất nhạt, đường kính khoảng 4 cm, cuống hoa và bầu dài 2-2,5 m. Các lá đài hình mác hẹp, đỉnh nhọn, dài 2,4-2,7 cm, rộng 0,6-0,8 cm. Cằm dài khoảng 0,6 cm. Cánh hoa hình mác, đỉnh nhọn, dài 2,4-2,5 cm, rộng 0,6-0,7 cm.
Môi màu vàng nhạt, đôi khi pha tím rất nhạt, hình gần tròn, dài 2,7-3 cm, rộng 2,5-2,6 cm, mép có lông ngắn, bề mặt phủ lông thưa, có 3 đường sống ngắn ở phần gốc, hai bên gốc có vạch chéo màu tía. Cột màu trắng, cao khoảng 0,5 cm; tuyến mật hình bán nguyệt; răng cột có đỉnh nhọn. Nắp màu trắng, đỉnh màu tím, phủ nhú mịn.
Sinh học, sinh thái:
Cây thường mọc bám trên các cây gỗ lớn trong rừng, ở độ cao 400-1.500 m.
Mùa hoa tháng 3-4. Tái sinh bằng chồi và hạt.
Phân bố:
Trong nước: Sa pa, Quảng Trị, Khánh Hoà, Lâm Đồng.
Trên thế giới: Ấn Độ, Trung Quốc, Myanma, Lào, Việt Nam.
Tình trạng bảo tồn:
Sách đỏ Việt Nam 2024: Phân hạng loài nguy cấp (EN).
Thông tư 85/2025/TT-BNNMT: Đã có tên trong Phụ lục II CITES và Nhóm IIA – Hạn chế khai thác và sử dụng
Giá trị, công dụng:
Cây có hoa đẹp, thơm được trồng làm cảnh.
Biện pháp bảo vệ:
Quản lý và kiểm soát chặt chẽ việc khai thác gỗ rừng phá hoại cảnh quan nơi
sống của loài. Cần di chuyển một số cây sống của loài này về một số VQG và KBTTN để nhân giống, bảo tồn và phát triển. Kiểm soát chặt chẽ tình trạng khai thác, buôn bán trái pháp luật loài này ở trong nước.