Cây gỗ nhỏ cao 6m; nhánh mảnh, có lông mịn lúc non. Lá mọc xen ở nhánh non, có phiến bầu dục, vào 8,5 x 3,2 cm, không lông, mặt trên nâu đỏ, mặt dưới mốc mốc lúc khô, gân phụ mịn, 6-8 cặp; cuống 6-8mm, có lông.
Tán nhỏ ở nách, trên cong 2-4 mm, lá hoa nhỏ, 5-6; hoa có tai gần như không lông, hoa đực có 9 tiểu nhuỵ, không tiểu nhuỵ lép. Hoa cái có tiểu nhuỵ lép, noãn sào không lông. Quả tròn, đen đen, kích thước 7-8 mm, trên bao hoa hình dĩa.
Sinh học và sinh thái:
Cây mục ở rừng thường xanh nhiệt đới ở độ cao đến 700 m. Mùa hoa tháng 8-9.
Đây là loài đơn tính khác gốc; cần trồng cả cây đực và cây cái nếu muốn thu hoạch quả và hạt.
Mùa hoa quả tháng 5-8
Phân bố:
Trong nước: Lạng Sơn, Vĩnh Phúc,Hà Nội, Nghệ An, Quảng Trị.
Thế giới: Bangladesh, Trung Quốc, Lào, Thái Lan, Việt Nam.
Tình trạng bảo tồn:
Cây được khai thác từ tự nhiên để lấy gỗ phục vụ nhu cầu tại địa phương, đang bị đe dọa ở quy mô địa phương do nạn phá rừng và tình trạng mất môi trường sống khi đất đai bị chuyển đổi sang mục đích nông nghiệp và trồng rừng sản xuất. Tuy nhiên, do loài này có phạm vi phân bố rộng và hiện diện tại nhiều khu bảo tồn, nên xét trên quy mô toàn cầu, nó không được coi là loài đang bị đe dọa.
Sách đỏ thế giới IUCN (2019) phân hạng loài ít quan tâm (LC).