Tên khác: Trầm; Trầm lá mít.
Tên khoa học: Aquilaria baillonii Pierre ex Lecomte & Leandri.
Đặc điểm nhận dạng:
Cây gỗ cao đến 15 m; nhánh mảnh, lúc non có lông nằm; chồi có lông tơ.
Lá có phiến xoan tròn dài, to 13-15 x 5-6,5 cm, mỏng, chót có mũi, gân phụ mảnh, nhiều, lồi 2 mặt, bìa rìa lông mịn; cuống 5-7 mm, có lông mịn.
Chùm hoa ngắn, hoa dài 1 cm; lá đài đứng, hiến 10, nhỏ, có lông; tiểu nhuỵ 10, noãn sào đầy lông.
Sinh học, sinh thái:
Cây thường mọc rải rác trong rừng kín thường xanh nhiệt đới ẩm, trên sườn dốc hoặc khe suối có đất ẩm, dễ thoát nước ở độ cao 100-900 m.
Ra hoa tháng 2 - 4, quả chín tháng 6 - 7.
Phân bố:
Trong nước: Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam – Đà Nẵng.
Nước ngoài: Thái Lan, Lào, Campuchia.
Giá trị, công dụng:
Vỏ cây có sợi thường dùng buộc, làm nguyên liệu giấy, làm dây.
Gỗ nhẹ, có mùi thơm, không bền vì mối mọt, ít được dùng làm đồ gia dụng, Giống như các loài khác trong chi Aquilaria, cây có khả năng tích tụ trầm hương mang lại giá trị kinh tế và dược liệu cao.
Tình trạng bảo tồn:
Do có giá trị kinh tế cao nên cây Trầm hương đã bị chặt phá hết sức bừa bãi để tìm kiếm "Trầm". Hiện nay hầu như không tìm thấy những cây lớn trong tự nhiên.
Sách đỏ thế giới IUCN (2017) phân hạng: Loài thiếu dự liệu (DD)
Biện pháp bảo vệ:
Một phần sinh cảnh của loài nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Bảo vệ quần thể và sinh cảnh của loài trong tự nhiên. Có thể trồng nhân tạo để bảo tồn và tạo nguồn sản phẩm cung ứng cho thị trường, giảm áp lực khai thác từ tự nhiên. Cần đi sâu nghiên cứu cụ thể hơn nữa quá trình tạo thành "Trầm".