Cây gỗ lớn cao 10 – 25 cm, dạng như một cây dầu, cành non có lông cứng vàng, lá có phiến cứng, giòn, nhám ở mạt trên, có gân lồi ở mặt dưới; lá kèm 1 cm, có lông vàng.
Dái mít ở ngọn nhánh, tròn hay tròn dài cỡ 1 cm.
Cụm hoa cái tròn, to 2, 5 cm. Quả to 7 cm hay hơn, có gai cao, khi non có lông dài màu trắng ở mỗi gai, có nhiều múi, khi chín màu vàng, có hạt to 12 x 8 mm.
Sinh học, sinh thái:
Loài mọc hoang trong rừng thường xanh ở độ cao 500 – 1.000m, thường mọc gần ở suối hay các khu vực hồ nước tự nhiên trong rừng. Có hoa tháng 4 – 5, quả tháng 6 – 8.
Phân bố:
Trong nước: Lâm Đồng, Darklak, Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai và có một số nơi trồng để lấy trái và gỗ.
Nước ngoài: Châu Á - Nhiệt đới: Đông Dương (Campuchia, Myanmar, Thái Lan, Việt Nam), Malesia (Borneo, Java, Quần đảo Sunda Nhỏ, Mã Lai, Sumatra)
Tình trạng bảo tồn:
Loài phổ biến.
Sách đỏ thế giới IUCN (2020) phân hạng Loài ít quan tâm (LC)
Giá trị, công dụng:
Quả ăn được, có vị thơm, rất chua. Người Campuchia, người ta dùng lõi gỗ để chế một loại nước màu vàng nghệ dùng để nhuộm quần áo của các nhà sư. Nhựa cây lẫn với sáp dùng trong xây dựng và cũng dùng như thuốc đắp trong khoa thú y.
Gỗ tốt dùng xây dựng và đóng các đồ gỗ cao cấp.
Biện pháp bảo vệ: