Đặc điểm nhận dạng:
Cây gỗ lớn, thường xanh, cao 20-30 m, thân tròn, thẳng, cây trồng trên 20 năm có đường kính thân 40-60 cm hoặc hơn, phân cành cao, gốc thân có bạnh vè nhỏ.
Lá đơn, mọc so le, phiến lá hình bầu dục hẹp, dài 8-20cm, rộng 5-12cm, đầu lá có mũi nhọn ngắn, gốc lá tròn hay hình nêm; gân bên có 10-12 đôi nổi rõ; cuống lá dài 1-2cm. Lá kèm nhọn, sớm rụng, để lại vết sẹo trên cành non.
Hoa nhỏ, đơn độc ở đầu cành; cuống hoa dài 2,5-3,5cm; bao hoa nhiều mảnh, mọc vòng, chưa phân hoá thành đài và tràng, màu trắng hay vàng nhạt, có mùi thơm. Nhị nhiều, trung đới có mũi nhọn ngắn. Lá noãn nhiều. Nhị và lá noãn đều xếp xoắn ốc trên một trục hoa hình trụ ngắn.
Quả kép, dài 7-10cm, mang 3-5 lá noãn rời, vách dày, hình trứng hẹp, đầu nhọn, đáy thót lại; khi chín các đại tự mở theo đường hàn của mép lá noãn; mỗi đại có 2-5 hạt hình trứng hẹp, dài khoảng 1cm, có lớp áo hạt bao bọc màu đỏ.
Hạt có tinh dầu thơm, vị cay.
Sinh học và sinh thái:
Cây mọc ở vùng núi khắp nước ta, trong các rừng rậm thường xanh, mưa mùa nhiệt đới và á nhiệt đới, độ cao trên 700m.
Mùa hoa tháng 4-5, quả tháng 8-10.
Phân bố:
Trong nước: Phân bố nhiều ở các tỉnh Tây Bắc, Đông Bắc (Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Phú Thọ, Tuyên Quang), đến các tỉnh Bắc Trung Bộ vào đến Tây Nguyên và Đông Nam Bộ.
Thế giới: Trung Quốc và Việt Nam.
Tình trạng bảo tồn:
Giổi là loài cây đặc hữu của khu vực nam Trung Quốc và Việt Nam.
Giá trị, công dụng:
Gỗ tốt, nhẹ, bền, có mùi thơm dịu, không bị mối mọt, cong vênh và dễ chế biến, thường được dùng làm bàn ghế, nhà cửa.
Hạt Giổi là đặc sản quý, dùng làm gia vị, có mùi thơm, vị cay, tính ấm; làm thuốc chữa ho, ngâm rượu để uống và xoa bóp trị phong thấp, nhức mỏi gân xương, trị đau bụng, ăn không tiêu.
Vỏ cây Giổi được dùng làm thuốc chữa sốt, cảm cúm, phong thấp, kích thích tiêu hoá, trị đau bụng, ăn không tiêu.
Biện pháp bảo vệ:
Hướng dẫn cho người dân biết cách thu hái bền vững, có biện pháp ngăn chặn cách khai thác “chặt hạ cả cây để lấy quả”.