Tên khác: Trôm đơn, Bo rừng, Bo xanh, Tơ đồng
Tên khoa học: Firmiana simplex (L.) W.Wight
Tên đồng danh: Hibiscus collinus Roxb.; Hibiscus simplex L.; Firmiana platanifolia R.Br.; Sterculia platanifolia L.f.; Sterculia simplex (L.) Druce.; Sterculia urens Roxb.
Đặc điểm nhận dạng:
Cây gỗ nhỏ lâu năm, cao đến 16 m, đường kính 30 cm. Vỏ thân cây nhẵn có màu xanh.
Lá đơn mọc cách, phiến lá xẻ thùy chân vịt nông 3-5 thùy. Kích thước lá dài 15–30 cm.
Hoa đơn tính cùng gốc, tràng hoa màu trắng hoặc vàng.
Quả dạng kiên, hình trái xoan.
Sinh học, sinh thái:
Cây ưa đất ẩm, thành phần cơ giới của đất từ sét đến pha cát, đất chua, trung tính đến kiềm. Ánh sáng từ toàn phần đến bị che bóng một phần.
Mùa hoa từ tháng 3 đến 4, quả chín từ tháng 7 đến 8.
Phân bố:
Trong nước: Ở Việt Nam, có gặp ở các tỉnh phía Bắc đến Huế.
Trên thế giới: Đông Á, Trung Quốc, Việt Nam. Ngoài ra, cây được trồng rộng rãi ở châu Âu, Bắc Mỹ và Đông Á.
Tình trạng bảo tồn:
Sách đỏ thế giới IUCN (2018) phân hạng Loài ít quan tâm (LC)
Giá trị, công dụng:
Ngô đồng có dáng thân thẳng, tán cây dạng trứng phù hợp trồng làm cây bóng mát ở ven đường, gần bãi đỗ xe.
Vỏ cây cho sợi. Gỗ ngô đồng có tính truyền âm tốt, được dùng để chế tạo một số loại nhạc cụ truyền thống phương đông như thất huyền cầm hay đàn tranh. Ngoài ra gỗ ngô đồng còn được dùng đóng một số đố gia dụng nhỏ khác.
Lá cây được dùng với liều lượng nhỏ trong y học chữa bệnh trĩ, loét. Lá cây phơi khô còn được cuộn lại sử dụng hút thay thể cho thuốc lá.
Hạt sử dụng trong điều chế thuốc kháng histamine, hạt cho dầu và có thể ăn được nếu biết cách chế biến.
Biện pháp bảo vệ: