Tên khác: Dung Guilaumin; Hột mè; Dung ba lá đài
Tên khoa học: Symplocos guillauminii Merr.
Tên đồng danh: Symplocos trisepala Guillaum, non Merr, Symplocos fasciculata sensu Phamh, Symplocos fasciculata Zoll. Var. chinensis auct, non Brand;
Đặc điểm nhận dạng:
Cây gỗ nhỏ, nhánh mảnh.
Lá có phiến màu xanh vàng lúc khô, dày, không lông, bìa có răng, gân phụ mảnh; cuống 3-8 mm.
Chùm hoa dài 2-3 cm; cọng mảnh; lá đài 3, mỏng; vành vàng, cánh hoa 5; tiểu nhuỵ vào 20; noãn sào 3 buồng. Trái cao 7-9 mm.
Sinh học, sinh thái:
Cây mọc tự nhiên ở rừng nhiệt đới ẩm.
Mùa hoa tháng 9-3.
Phân bố:
Trong nước: Hà Nội, Quảng Trị, Phan Thiết, Đồng Nai.
Trên thế giới: Việt Nam
Tình trạng bảo tồn:
Loài này đặc hữu và mọc tự nhiên tại Việt Nam (đặc biệt ghi nhận tại khu vực miền Trung và các khu bảo tồn như Vườn quốc gia Cát Tiên, Ba Vì)
Giá trị, công dụng:
Lá sử dụng như trà, có tác dụng lợi tiểu.
Biện pháp bảo vệ: